Làng mỏ những ngày giáp Tết
Có những gia đình nhiều đời nối nhau gắn bó với nghề than, có những con người gần trọn cả cuộc đời sống phần nhiều dưới hầm lò.
Con nối nghiệp cha
Vùng mỏ Hà Lầm, Cao Sơn, Mông Dương (thuộc TP Hạ Long và thị xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh) những ngày cuối năm ngoài đường vắng bóng đàn ông, chỉ còn lại phụ nữ ở trong những bãi khai thác than lộ thiên. Thấy chúng tôi ngạc nhiên, anh Hạnh, Chánh văn phòng Công ty Cổ phần than Hà Lầm giải thích: "Chui xuống đất cả rồi, thời điểm cuối năm đẩy cao tiến độ, ai đi làm thì dưới đó cả, còn lại anh em nào chưa tới ca thì tranh thủ ngủ chờ ca mới. Đặc thù lao động vùng than là vậy đấy". Không biết từ bao giờ mà những khu dân cư sống gần những mỏ than được gọi là "làng mỏ". Ở Quảng Ninh không biết có bao nhiêu làng mỏ. Tất cả đều vắng bóng cánh đàn ông con trai.
|
Phút nghỉ ngơi hiếm hoi của người thợ mỏ Hà Lầm |
Ở phường Hà Lầm, không ai không biết đến cụ Nguyễn Văn Sáu, một trong những người suốt cuộc đời gắn bó với công việc dưới lòng đất. Cụ Sáu trở thành công nhân mỏ từ cái ngày chính quyền ta tiếp quản được mỏ than từ tay người Pháp. Từ giữa những năm 50 thế kỷ trước cho đến lúc về hưu, công việc của cụ Sáu là dưới hầm lò.
"Người ta nói không sai một chút nào về sự hiểm nguy, thậm chí cả nỗi sợ hãi khi phải chui xuống hầm lò. Dưới đó, rủi ro là không thể lường trước được. Những ngày đầu được đưa xuống hầm lò, tôi lạnh ớn hết cả người. Ngày xưa an toàn lao động đâu có tốt như bây giờ. Nhưng rồi vượt qua sự sợ hãi ấy là niềm tự hào, cảm giác khó tả khi được lao động dưới lòng đất mẹ, đưa "vàng đen" lên trên mặt đất", ông Sáu tâm sự. Có lẽ chính vì lòng yêu nghề mới đủ sức níu giữ ông ở lại với nghề mỏ lâu đến như vậy. Đến lúc tuổi tác đã không còn cho ông xuống hầm nữa, thì người con trai duy nhất của ông lại tiếp nối nghiệp cha mình.
Bố con mà cả tháng không gặp
Cũng giống như làng mỏ Hà Lầm, ở Mông Dương cũng có một làng mỏ. Chúng tôi tìm cái tên Làng mỏ Mông Dương nhưng trên bản đồ tuyệt nhiên không có. Khi đến tận nơi mới biết cái tên đó là do người dân quen gọi như vậy. Đó là khu dân cư sống quây quần trong một khuôn viên khá khang trang. Khu dân cư này có hơn 100 gia đình thợ mỏ sinh sống.
Bà Liu Thị Dếnh, ở thị trấn Mông Dương kể lại: "Làng mỏ Mông Dương không phải ai muốn đến ở cũng được đâu. Ai có thành tích lao động tốt mới được địa phương xét cấp đất. Ở cái làng than này, giờ thế hệ thứ hai đã tiếp nối bố mẹ bước chân vào nghiệp mỏ. Công nhân than bây giờ thu nhập khoảng từ 6-8 triệu đồng/tháng. Vài năm trước một số thợ mỏ đã phải bỏ nghề, nhưng phần đông người dân nơi đây vẫn bám trụ lại với nghề than".
Bà Dếnh năm nay đã ngoài 60 tuổi, gốc gác ở bên Trung Quốc, nhưng cả cuộc đời bà gắn bó với mảnh đất này, vì vậy mà bà biết nhiều chuyện. Theo bà Dếnh, điều đáng tự hào nhất của làng mỏ là ít có sự va chạm, to tiếng trong gia đình cũng như hàng xóm láng giềng. "Ở chỗ khác người ta ồn ào náo nhiệt, riêng ở đây không khí lúc nào cũng yên bình. Đàn ông xuống mỏ, đàn bà con gái thì bốc, gánh than. Hết ca, mệt mỏi người ta về nhà đóng cửa ngủ, yêu nhau còn chẳng kịp, nói gì cãi cọ", bà Dếnh kể.
Có sống ở đây mới biết được nhiều gia đình, khi người chồng vừa hết ca lên mặt đất, trở về nhà thì vợ con đã vào công trường. Đến khi chồng quay trở lại hầm thì vợ con mới về nhà. Bà Dếnh bảo, có những gia đình hai bố con làm cùng mỏ nhưng khác ca, ở trong cùng một mái nhà nhưng cả tháng trời không nhìn mặt nhau là chuyện thường. Cuộc sống ở làng than khác lạ đến khó tin như vậy. Và "đời than" là vậy!
|
Chị Nga: "Chúng tôi vất vả nhưng chưa thấm vào đâu so với cánh đàn ông làm việc dưới hầm mỏ. |
Dại... gì mà không thương nhau
Cuối giờ làm buổi sáng, dù là thời điểm cuối năm nhưng không khí ở mỏ than vẫn oi nồng đến khó chịu. Lẩn khuất giữa những đống than cao vút nối nhau chạy dài từ cửa hầm ra đến đầu đường là bóng dáng những người phụ nữ, khẩu trang kín mít, mồ hôi ướt đầm áo. Họ tất tưởi lượm những cục than bỏ vào thùng xe rồi hò nhau đẩy vào khu xử lý.
Theo giải thích của chị Nguyễn Thị Nga (nhà ở tổ 147, khu 5, thị trấn Mông Dương) thì cái nghề bốc than, lựa than là công việc dành riêng cho phụ nữ. Phụ nữ cần mẫn, dẻo dai, cánh đàn ông không bằng được. Hơn nữa anh em nam giới sức dài vai rộng, nếu đến với nghề than thì tất cả đều xuống dưới mỏ chứ không làm cái công việc "vặt vãnh" này.
Mỗi cái xe goòng phải tập trung đến 5- 6 người mới đủ sức đẩy cho nó lăn bánh. Ai không đẩy xe thì gánh. Bình quân một gánh than nặng tới 50- 60kg, vậy mà có chị gánh cả trăm chuyến mỗi ngày. Không ai đếm chính xác, nhưng tính ra mỗi người gánh 5 đến 7 tấn than/ngày.
Làm việc cực nhọc, nhưng những người phụ nữ vẫn nói rằng cánh đàn ông mới thật vất vả vì họ phải đảm trách công việc đầy hiểm nguy. Chị Nga tâm sự: "Năm qua, mỗi khi nghe tin các vụ sập hầm lò mà giật mình thon thót, càng thương chồng con, thương đồng nghiệp nam giới hơn".
Chị Nga bảo, vất vả lấm lem cả ngày, nhưng nghĩ mình còn hơn nhiều chị em khác, họ phải xin làm "phu" gánh than, bán sức lao động cho những chủ mỏ than nhỏ. Tết nhất công nhân nhà nước còn có thưởng, chứ họ chẳng có gì.
"Hầu hết hoàn cảnh gia đình thợ mỏ là khó khăn, nhưng có lẽ vì vậy mà thương nhau lắm. Ngẫm cho cùng, tuy có vất vả nhưng còn có công việc, còn có sức khoẻ để mà làm là hạnh phúc lắm rồi. Sống... dại gì mà không thương lấy nhau".
Đến với nghề than, không chỉ có người dân bản địa là còn có sự góp mặt của người lao động khắp mọi nơi như: Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, xa hơn nữa là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh... Những ngày tháng cuối năm, họ lại chộn rộn chuẩn bị về quê ăn Tết. Họ bàn nhau chuyện đón xe, lên tàu, kể với nhau về quê hương, về gia đình và những dự định trong năm mới.
Lại thêm một mùa xuân nữa lại về, dưới độ sâu gần 300m so với mực nước biển hay trên những bãi than lộ thiên, hàng ngàn, hàng vạn người thợ mỏ đang miệt mài làm việc. Chúc cho họ có một mùa xuân đầm ấm.
An Quỳnh